Dấu hiệu nhiễm trùng máu ở người lớn& cách điều trị

Triệu chứng nhiễm trùng máu dễ nhận biết nhất: sốt cao trên 38.5 độ, tiểu cầu giảm, tiểu ít, đau đầu, mệt mỏi, khó thở do chức năng tim suy giảm & một số biểu hiện lâm sàn bên dưới.

Nhiễm trùng máu là gì?

Nhiễm trùng máu là một trong những hội chứng lâm sàng nguy hiểm, có nguyên nhân bắt nguồn từ sự xâm nhập vào máu bởi các vi sinh vật (vi khuẩn, ký sinh trùng…). Biểu hiện của bệnh là một loạt các triệu chứng như: sốt, rét run, nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp thở và ý thức. Đặc biệt là khi chúng giải phóng ra các loại độc tố sẽ dẫn đến tình trạng sốc nhiễm khuẩn mà biểu hiện rõ nhất là tụt H.A, suy đa tạng, rối loạn hô hấp, rồi loạn tuần hoàn và ý thức nặng. Giai đoạn này bệnh trở nên rất nặng vì vậy mà có những trường hợp được điều trị tích cực, kháng sinh phù hợp nhưng bệnh nhân vẫn tử vong do sốc nhiễm trùng.

Ai dễ bị nhiễm trùng máu?

  • Người rất trẻ và rất già.
  • Bị tổn thương hệ thống miễn dịch.
  • Những người bệnh nặng trong bệnh viện.
  • Những người có các thiết bị xâm nhập, chẳng hạn như ống thông tiểu hoặc ống thở.

Nguyên nhân của nhiễm trùng máu phần lớn do các vi khuẩn Gram âm gây ra, tụ cầu, phế cầu và các vi khuẩn Gram dương khác thì ít gặp hơn. Nhiễm trùng máu đặc biệt nguy hiểm nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời dẫn đến các biến chứng nặng về tuần hoàn, hô hấp, rối loạn đông máu, suy gan thận và các tạng khác.

Triệu chứng nhiễm trùng máu dễ nhận thấy nhất

Nhiều bác sĩ xem như là một hội chứng nhiễm trùng huyết ba giai đoạn, bắt đầu với nhiễm trùng huyết và tiến triển thông qua sốc nhiễm trùng huyết nặng đến tự hoại. Mục đích là để điều trị nhiễm trùng huyết trong giai đoạn nhẹ, trước khi nó trở nên nguy hiểm hơn.

benh-nhiem-trung-mau

Nhiễm trùng huyết: Để được chẩn đoán nhiễm trùng, phải thể hiện ít nhất hai trong số các triệu chứng sau đây:

Sốt trên 101,3 F (38,5C) hoặc dưới 95 F (35 C).

  • Nhịp tim hơn 90 nhịp một phút.
  • Tốc độ hô hấp hơn 20 một phút.
  • Có thể xảy ra hoặc được xác nhận nhiễm trùng.

Nhiễm trùng huyết nặng: Chẩn đoán sẽ được nâng cấp đến nhiễm trùng huyết nặng nếu thể hiện ít nhất một trong các dấu hiệu và triệu chứng sau đây, mà chỉ ra rối loạn chức năng nội tạng:

  • Vùng da vằn.
  • Giảm đáng kể lượng nước tiểu.
  • Đột ngột thay đổi tình trạng tâm thần.
  • Giảm số lượng tiểu cầu.
  • Khó thở.
  • Bất thường chức năng tim.

Sốc nhiễm trùng: Để được chẩn đoán là sốc nhiễm khuẩn, phải có các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng huyết nặng – cộng với huyết áp rất thấp.

Hầu hết nhiễm trùng huyết thường xảy ra ở những người được nhập viện. Người ở các đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) đặc biệt dễ bị nhiễm khuẩn phát triển, sau đó có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết. Nếu bị nhiễm trùng, hoặc nếu phát triển các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng sau khi phẫu thuật, hoặc nhiễm trùng nằm viện, tìm kiếm sự chăm sóc y tế kịp thời.

Các xét nghiệm và chẩn đoán: Chẩn đoán nhiễm trùng huyết có thể khó khăn vì các dấu hiệu và triệu chứng của nó có thể được gây ra bởi các rối loạn khác. Các bác sĩ thường làm một loạt các xét nghiệm để xác định nhiễm trùng tiềm ẩn.

Xét nghiệm máu: Một mẫu máu có thể được kiểm tra:

  • Bằng chứng của nhiễm trùng.
  • Vấn đề đông máu.
  • Bất thường chức năng gan hoặc thận.

Oxy. Sự mất cân bằng điện giải. Thí nghiệm thử nghiệm:

Tùy thuộc vào triệu chứng, bác sĩ cũng có thể muốn thử nghiệm trên một hoặc nhiều chất dịch cơ thể sau đây:

  • Nước tiểu. Nếu bác sĩ nghi ngờ có một nhiễm trùng đường tiết niệu, có thể muốn kiểm tra nước tiểu tìm dấu hiệu của vi khuẩn.
  • Vết thương. Nếu có một vết thương mở xuất hiện nhiễm trùng, xét nghiệm một mẫu dịch tiết của vết thương có thể giúp tìm thấy các loại kháng sinh có thể làm việc tốt nhất.
  • Dịch não tủy. Chèn một cây kim giữa các xương của cột sống, để lấy ra một mẫu chất lỏng.  Chất lỏng này có thể được kiểm tra các bệnh nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm màng não.
  • Quét hình ảnh: Nếu không có bệnh rõ ràng, bác sĩ có thể kiểm tra hình ảnh để cố gắng tìm nguồn lây nhiễm.
  • X-ray. Sử dụng mức thấp của bức xạ, X-quang là một công cụ tốt để hình dung vấn đề ở phổi. X-quang không gây đau đớn và chỉ mất vài phút để hoàn thành.
  • Vi tính cắt lớp (CT). Nhiễm trùng trong tuyến tụy, ruột thừa hay ruột được nhìn thấy dễ dàng hơn trên ảnh chụp cắt lớp. công nghệ này có X-quang từ nhiều góc độ và kết hợp chúng lại để mô tả – lát cắt ngang của cấu trúc nội cơ thể. Xét nghiệm này không đau và thường không quá 20 phút.
  • Siêu âm. Công nghệ này sử dụng sóng âm để sản xuất các hình ảnh trên một màn hình video. Siêu âm có thể đặc biệt hữu ích để kiểm tra các bệnh nhiễm trùng ở túi mật hoặc buồng trứng.
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI). MRIs có thể hữu ích trong việc xác định nhiễm trùng mô mềm, chẳng hạn như áp-xe cột sống. Công nghệ này sử dụng sóng vô tuyến điện và nam châm mạnh để sản xuất, cắt ngang hình ảnh của cấu trúc bên trong.

Điều trị nhiễm trùng máu như thế nào?

Ngày nay, với sự tiến bộ của các phương tiện chẩn đoán, trang thiết bị hỗ trợ tim mạch, hô hấp và kháng sinh thì việc chữa trị nhiễm trùng máu có kết quả rõ rệt, giảm được tử vong rất nhiều. Việc điều trị bao gồm cả công tác chẩn đoán sớm, loại bỏ nguồn gốc gây nhiễm trùng từ ổ nguyên phát, hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp, điều chỉnh thăng bằng kiềm toan, chống rối loạn đông máu và kháng sinh. Trước khi sử dụng kháng sinh nên cấy máu và các bệnh phẩm khác để làm kháng sinh đồ chọn ra kháng sinh phù hợp song không phải chờ kết quả của kháng sinh đồ mới điều trị mà nên dùng kháng sinh phổ rộng ngay sau khi lấy bệnh phẩm.

Nhìn chung với sự xuất hiện của các loại kháng sinh mới, có tác dụng rộng và phương tiện hồi sức tốt, chẩn đoán kịp thời, hiện nay bệnh nhiễm trùng máu đã giảm được tỷ lệ tử vong đáng kể.

tu khoa

  • bệnh nhiễm trùng máu ở người già
  • bệnh nhiễm trùng máu là gì
  • bệnh nhiễm trùng máu có lây không
  • bệnh nhiễm trùng máu có chữa được không
  • nhiễm trùng máu có phải là ung thư máu không
  • bệnh nhiễm trùng máu giai đoạn cuối

Leave a Reply

Your email address will not be published.